Tên gọi chính thức: Chăm
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời.
Các nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Pôông. Chà Và Ku, Chàm Châu Đốc.
Số dân: 161.729 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)
Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói của người Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Người Chăm có chữ viết riêng, dựa trên hệ thống văn tự Sascrit.
Địa bàn cư trú: Cư trú chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và một số địa phương khác (Tây Ninh, An Giang, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh).
Nguồn gốc lịch sử: Người Chăm vốn ở duyên hải miền Trung từ rất lâu đời.
Đặc điểm kinh tế: Người Chăm có truyền thống trồng lúa nước và trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nghề dệt vải, làm gốm cổ truyền nổi tiếng. Trao đổi sản phẩm, buôn bán phát triển.
Phong tục tập quán
Ăn: Đồng bào ăn cơm tẻ, thích uống rượu cần, ăn trầu.
Ở: Người Chăm Ở nhà sàn thấp và nhà trệt trong một quần thể kiến trúc trên một diện tích. Nhà cửa đơn sơ, làng mạc kín đáo. Gia đình người Chăm vẫn theo chế độ mẫu hệ.
Phương tiện vận chuyển: Người Chăm thường sử dụng các xe thô sơ dựa vào sức kéo của súc vật. Trên biển đã từng có những đội thuyền chiến và đội th ương thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Hôn nhân : Nhà gái cười chồng cho con, Sau khi cười, con trai ở rể.
Tang ma: Người Chăm có tục thổ táng và hỏa táng tùy theo tôn giáo.
Lễ hội: thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm (lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. .). Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch).
Tín ngưỡng: Người Chăm theo hai tôn giáo chính: đạo Bà la môn ( khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận). Một số theo Hồi giáo Bà ni hoặc Hồi giáo lslam.
Trang phục: Đàn ông quấn xà rông, áo cánh ngắn cài khuy phía trước, áo xẻ ngực. Đàn bà quấn váy tấm, mặc áo dài chui đầu có thắt lưng và thường có dải khăn quàng chéo trước ngực.
Đời sống văn hóa: Nền văn học cổ Chăm rất phóng phú và đặc sắc với các bia kí, kinh thánh, huyền thoại. sử thi anh hùng, truyện cổ. Kiến trúc tháp, thánh đường là kiến trúc độc đáo và tiêu biểu. Nhạc cổ truyền có kèn saranai, trống paranưng, trống kinăng, đàn nhị và những bộ chiêng đồng.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời.
Các nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Pôông. Chà Và Ku, Chàm Châu Đốc.
Số dân: 161.729 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)
Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói của người Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Người Chăm có chữ viết riêng, dựa trên hệ thống văn tự Sascrit.
Địa bàn cư trú: Cư trú chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và một số địa phương khác (Tây Ninh, An Giang, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh).
Nguồn gốc lịch sử: Người Chăm vốn ở duyên hải miền Trung từ rất lâu đời.
Đặc điểm kinh tế: Người Chăm có truyền thống trồng lúa nước và trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nghề dệt vải, làm gốm cổ truyền nổi tiếng. Trao đổi sản phẩm, buôn bán phát triển.
Phong tục tập quán
Ăn: Đồng bào ăn cơm tẻ, thích uống rượu cần, ăn trầu.
Ở: Người Chăm Ở nhà sàn thấp và nhà trệt trong một quần thể kiến trúc trên một diện tích. Nhà cửa đơn sơ, làng mạc kín đáo. Gia đình người Chăm vẫn theo chế độ mẫu hệ.
Phương tiện vận chuyển: Người Chăm thường sử dụng các xe thô sơ dựa vào sức kéo của súc vật. Trên biển đã từng có những đội thuyền chiến và đội th ương thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Hôn nhân : Nhà gái cười chồng cho con, Sau khi cười, con trai ở rể.
Tang ma: Người Chăm có tục thổ táng và hỏa táng tùy theo tôn giáo.
Lễ hội: thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm (lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. .). Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch).
Tín ngưỡng: Người Chăm theo hai tôn giáo chính: đạo Bà la môn ( khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận). Một số theo Hồi giáo Bà ni hoặc Hồi giáo lslam.
Trang phục: Đàn ông quấn xà rông, áo cánh ngắn cài khuy phía trước, áo xẻ ngực. Đàn bà quấn váy tấm, mặc áo dài chui đầu có thắt lưng và thường có dải khăn quàng chéo trước ngực.
Đời sống văn hóa: Nền văn học cổ Chăm rất phóng phú và đặc sắc với các bia kí, kinh thánh, huyền thoại. sử thi anh hùng, truyện cổ. Kiến trúc tháp, thánh đường là kiến trúc độc đáo và tiêu biểu. Nhạc cổ truyền có kèn saranai, trống paranưng, trống kinăng, đàn nhị và những bộ chiêng đồng.
Tên tự gọi: Ba-na.
Tên gọi khác: Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông...
Nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem.
Dân số: 227.716 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)
Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Người Ba - na chưa có chữ viết riêng.
Nguồn gốc lịch sử: Dân tộc Ba-na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên.
Địa bàn cư trú: Cư trú tập trung tại tỉnh Gia Lai, Kon Tum và miền Tây của Bình Ðịnh, Phú Yên và Khánh Hòa.
Đặc điểm kinh tế: Canh tác lúa trên ruộng khô và rẫy. Việc làm ruộng nước ngày càng phát triển. Vườn chuyên canh và vườn đa canh cũng xuất hiện từ lâu. Công việc chăn nuôi và các nghề thủ công như: đan, dệt, gốm, rèn đảm bảo nhu cầu cuộc sống.
Phong tục tập quán
Ăn: Người Ba-na ăn cơm tẻ. Nam, nữ đều thích ăn trầu, hút thuốc lá cuốn và uống rượu cần.
Ở: Ở nhà sàn, cửa ra vào mở về phía mái, trên hai đầu đốc đều có trang trí hình sừng. Nhà Rông dựng lên giữa làng là nơi diễn ra mọi sinh hoạt chung của cộng đồng làng như giáo dục thanh thiếu niên, tổ chức nghi lễ, hội làng, xử án...
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng.
Hôn nhân: Từ xưa, hôn nhân một vợ, một chồng là nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng gia đình. Hình thức luân cư sau lễ cưới rất phổ biến. Kết thúc các chu kỳ luân cư (ở bên vợ rồi ở bên chồng), đôi vợ chồng ra ở riêng.
Tang ma: Khi có người chết thì thổ táng, lúc đoạn tang thì làm lễ bỏ mả, dựng nhà mồ và tượng mồ.
Lễ hội: Nhiều lễ hội gắn với chu kỳ sản xuất và vòng đời.
Tín ngưỡng: Người Ba-na thờ nhiều thần. Họ có nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp. Hồn lúa được coi trọng. Một bộ phận theo đạo Công giáo và Tin lành.
Trang phục: Nam đóng khố, nữ quấn váy, nửa thân trên để trần hoặc mặc áo cánh ngắn chui đầu. Ngày lạnh, người Ba-na thường khoác thêm một tấm vải choàng qua đầu
Đời sống văn hóa: Người Ba - na có kho tàng dân ca phong phú, phổ biến là điệu hmon và roi. Nhạc cụ cũng rất đa dạng, độc đáo (bộ dây, bộ hơi và bộ gõ...). Trường ca, Truyện cổ của dân tộc Ba - na cũng là những tác phẩm dân gian cổ truyền độc đáo, có giá trị trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Tên gọi khác: Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông...
Nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem.
Dân số: 227.716 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)
Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Người Ba - na chưa có chữ viết riêng.
Nguồn gốc lịch sử: Dân tộc Ba-na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên.
Địa bàn cư trú: Cư trú tập trung tại tỉnh Gia Lai, Kon Tum và miền Tây của Bình Ðịnh, Phú Yên và Khánh Hòa.
Đặc điểm kinh tế: Canh tác lúa trên ruộng khô và rẫy. Việc làm ruộng nước ngày càng phát triển. Vườn chuyên canh và vườn đa canh cũng xuất hiện từ lâu. Công việc chăn nuôi và các nghề thủ công như: đan, dệt, gốm, rèn đảm bảo nhu cầu cuộc sống.
Phong tục tập quán
Ăn: Người Ba-na ăn cơm tẻ. Nam, nữ đều thích ăn trầu, hút thuốc lá cuốn và uống rượu cần.
Ở: Ở nhà sàn, cửa ra vào mở về phía mái, trên hai đầu đốc đều có trang trí hình sừng. Nhà Rông dựng lên giữa làng là nơi diễn ra mọi sinh hoạt chung của cộng đồng làng như giáo dục thanh thiếu niên, tổ chức nghi lễ, hội làng, xử án...
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng.
Hôn nhân: Từ xưa, hôn nhân một vợ, một chồng là nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng gia đình. Hình thức luân cư sau lễ cưới rất phổ biến. Kết thúc các chu kỳ luân cư (ở bên vợ rồi ở bên chồng), đôi vợ chồng ra ở riêng.
Tang ma: Khi có người chết thì thổ táng, lúc đoạn tang thì làm lễ bỏ mả, dựng nhà mồ và tượng mồ.
Lễ hội: Nhiều lễ hội gắn với chu kỳ sản xuất và vòng đời.
Tín ngưỡng: Người Ba-na thờ nhiều thần. Họ có nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp. Hồn lúa được coi trọng. Một bộ phận theo đạo Công giáo và Tin lành.
Trang phục: Nam đóng khố, nữ quấn váy, nửa thân trên để trần hoặc mặc áo cánh ngắn chui đầu. Ngày lạnh, người Ba-na thường khoác thêm một tấm vải choàng qua đầu
Đời sống văn hóa: Người Ba - na có kho tàng dân ca phong phú, phổ biến là điệu hmon và roi. Nhạc cụ cũng rất đa dạng, độc đáo (bộ dây, bộ hơi và bộ gõ...). Trường ca, Truyện cổ của dân tộc Ba - na cũng là những tác phẩm dân gian cổ truyền độc đáo, có giá trị trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
STT
|
Tên gọi
|
Tên gọi khác
|
Các nhóm nhỏ
|
Địa bàn cư trú
|
1
|
Kinh
|
Việt
|
Trong cả nước
|
|
2
|
Tày
|
Thổ
|
Ngạn, Phán, Thu lao, Pa dí | Hà giang, Tuyên Quang, Lào cai, Yên Bái, Cao Bằng, Lai Châu, Bắc Thái, Hà Bắc. |
3
|
Thái
|
Táy
|
Táy Khao(Thái Trắng), Táy Đăm (Thái Đen), Táy Chiềng hay Táy Mương(Hàng Tổng), Táy Thanh(Man Thanh), Táy Mười, Pu Thay, Thổ Đà Bắc, Táy Mộc Châu(Táy Đeng) | Sơn La, Lai Châu, Nghệ An, Thanh Hoá, Lào Cai, Yên Bái, Hoà Bình, Lâm Đồng... |
4
|
Mường
|
Mol, Mual, Mọi
|
Mọi Bi, Ao Tá (ÂuTá) | Hoà Bình, Thanh Hoá, Vĩnh Phú, Yên Bái, Sơn La, Ninh Bình |
5
|
Hoa
|
Khách, Tàu, Hán
|
Triền Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Xạ Phang, Thoòng Nhằn, Hẹ | Kiên Giang, Hải Phòng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Quảng Ninh,Đồng Nai, Hậu Giang, Minh Hải, tp Hồ Chí Minh |
6
|
Khơ-me
|
Miên, Cur, Cul, Thổ, Việt gốc Khơ-me, Khơ-me Krôm | Hậu Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Kiên Giang, Minh Hải, Tây Ninh, tp Hồ Chí Minh, Sông Bé, An Giang | |
7
|
Nùng
|
Nùng Xuồng, Nùng Giang, Nùng An, Nùng Phàn Sình, Nùng Lòi, Nùng Tùng Slìn, Nùng Cháo, Nùng Quý Rỵn, Nùng Khèn Lài, Nùng Dín, Nùng Inh... | Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Hà Giang, Tuyên Quang, Hà Bắc, Quảng Ninh, tp. Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Lào Cai | |
8
|
Hơmông
|
Mèo, Mẹo, Mán, Miêu Tộc
|
Mèo Hoa, Mèo Xanh, Mèo Đỏ, Mèo Đen, Ná Miẻo, Mèo Trắng | Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Nghệ An, Thanh Hóa, Hoà Bình, Bắc Thái |
9
|
Dao
|
Mán, Động, Trại, Dìu, Miền,
Kiềm, Kìm Mùn
|
Dao Đại Bản, Dao Đỏ, Dao Cóc Ngáng, Dao Cóc Mùn, Dao Lô Gang, Dao Quần Chẹt, Dao Tam Đảo, Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Làn Tiẻn, Dao áo Dài | Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Lai Châu, Sơn La, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Thanh Hoá, Quảng Ninh, Hoà Bình, Hà Tây |
10
|
Gia-rai
|
Mọi, Chơ-rai
|
Chỏ, Hđrung, Aráp, Mdhur, Tbuăn | Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc |
11
|
Ê-đê
|
Đe, Mọi
|
Ra-đê, Rha-đê, Êđê-Êga, Anăk Êđê, Kpă, Ađham, Krung, Ktul Dliê, Ruê, Blô, Êpan, Mđhur, Bih, Kđrao, Dong Kay, Dong Măk, Êning, Arul, Hning, Kmun,Ktlê | Đắc Lắc, Phú Yên, Khánh Hoà |
12
|
Ba-na
|
Bơ-nâm, Roh, Kon Kde, Ala Công,
Kpang Công
|
Tơ-lô, Gơ-lar, Rơ-ngao, Krem, Giơ-lơng(Y-lơng) | Kon Tum, Bình Định, Phú Yên |
13
|
Sán Cháy
|
Mán, Cao Lan-Sán Chỉ, Hờn Bạn,
Hờn Chùng, Sơn Tử
|
Cao Lan, Sán Chỉ | Bắc Thái, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Hà Bắc, Lạng Sơn, Vĩnh Phú, Yên Bái |
14
|
Chăm
|
Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời, Chàm
|
Chăm Hroi, Chàm Châu Đốc, Chà Và Ku, Chăm Pôông | Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang, tp. Hồ Chí Minh, Bình Định, Phú Yên, Châu Đốc, Khánh Hoà |
15
|
Xơ-đăng
|
Kmrâng, Hđang, Con-lan, Brila
|
Xơ-teng,Tơ-đrá, Mơ-nâm, Hà-lăng, Ca-dong, Châu, Ta Trẽ(Tà Trĩ) | Kon Tum, Quảng Nam-Đà Nẵng, Quảng Ngãi |
16
|
Sán Diù
|
Trại, Trại Đát, Sán Dợo, Mán
quần Cộc, Mán Váy Xẻ
|
Quảng Ninh, Hà Bắc, Hải Hưng, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Tuyên Quang | |
17
|
Hrê
|
Mọi Đá Vách, Chăm-rê, Mọi Luỹ,
Thạch Bých, Mọi Sơn Phòng
|
Quảng Ngãi, Bình Định | |
18
|
Cơ-ho
|
Xrê, Nốp (Tu Nốp), Cơ-don, Chil, Lát (Lách), Tơ-ring | Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hoà | |
19
|
Ra-glay
|
O-rang, Glai, Rô-glai, Radlai,
Mọi
|
Ra-clay (Rai), Noong (La-oang) | Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hoà, Lâm Đồng |
20
|
Mnông
|
Gar, Chil, Rlâm, Preh, Kuênh, Nông, Bu-Đâng, Prâng, Đip, Biêt, Si Tô, Bu Đêh | Đắc Lăc, Lâm Đồng | |
21
|
Thổ
|
Kủo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai-Ly Hà, Tày Poọng (Con Kha, Xá La Vàng) | Nghệ An, Thanh Hoá | |
22
|
X'tiêng
|
Xa-điêng, Mọi, Tà-mun
|
Sông Bé, Tây Ninh, Lâm Đồng, Đắc Lắc | |
23
|
Khơmú
|
Xá Cốu, Pu Thênh, Tày Hạy, Việt
Cang, Khá Klậu, Tềnh
|
Quảng Lâm | Sơn La, Lai Châu, Nghệ An, Yên Bái |
24
|
Bru-Vân Kiều
|
Vân Kiều, Măng Coong, Trì, Khùa, Bru | Quảng Bình, Quảng Trị | |
25
|
Giáy
|
Nhắng, Giẳng, Sa Nhân, Pầu Thỉn,
Chủng Chá, Pu Nắm
|
Pu Nà (Cùi Chu hoặc Quý Châu) | Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu |
26
|
Cơ-tu
|
Ca-tu, Ca-tang, Mọi, Cao, Hạ
|
Phương, Kan-tua | Quảng Nam-Đà Nẵng, Thừa Thiên-Huế |
27
|
Gié-Triêng
|
Giang Rẫy, Brila, Cà-tang, Mọi,
Doãn
|
Gié (Dgieh, Tareh), Triêng (Treng, Tơ-riêng), Ve (La-ve), Pa-noong (Bơ Noong) | Quảng Nam-Đà Nẵng, Kon Tum |
28
|
Ta-ôi
|
Tôi-ôi, Ta-hoi, Ta-ôih, Tà-uất
(Atuất)
|
Pa-cô, Ba-hi, Can-tua | Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế |
29
|
Mạ
|
Châu Mạ, Chô Mạ, Mọi | Lâm Đồng, Đồng Nai | |
30
|
Co
|
Trầu, Cùa, Mọi, Col, Cor, Khùa
|
Quảng Ngãi, Quảng Nam-Đà Nẵng | |
31
|
Chơ-ro
|
Châu-ro, Dơ-ro, Mọi
|
Đồng Nai | |
32
|
Hà Nhì
|
U Ní, Xá U Ní, Hà Nhì Già
|
Hà Nhì Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì Đen | Lai Châu, Lào Cai |
33
|
Xinh-mun
|
Puộc, Pụa, Xá
|
Dạ, Nghẹt | Sơn La, Lai Châu |
34
|
Chu-ru
|
Chơ-ru, Kru, Mọi
|
Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận | |
35
|
Lào
|
Lào Bốc, Lào Nọi
|
Lai Châu, Sơn La | |
36
|
La-chí
|
Thổ Đen, Cù Tê, Xá, La ti, Mán
Chí
|
Hà Giang | |
37
|
Phù Lá
|
Bồ Khô Pạ (Xá Phó), Mun Di Pạ, Phù Lá Đen, Phù Lá Hoa, Phù Lá Trắng, Phù Lá Hán, Chù Lá Phù Lá | Lao Cai, Lai Châu, Sơn La, Hà Giang | |
38
|
La Hủ
|
Khù Sung (Cò Sung), Khạ Quy (Xá Quỷ), Xá Toong Lương (Xá Lá Vàng), Xá Pươi | Lai Châu | |
39
|
Kháng
|
Xá Khao, Xá Đón, Xá Tú Lăng
|
Kháng Xúa, Kháng Đón, Kháng Dống, Kháng Hốc, Kháng ái, Kháng Bung, Kháng Quảng Lâm | Lai Châu, Sơn La |
40
|
Lự
|
Lừ, Duôn, Nhuồn
|
Lai Châu | |
41
|
Pà Thẻn
|
Pà Hưng, Mán Pa Teng, Tống
|
Tống, Mèo Lài | Hà Giang, Tuyên Quang |
42
|
LôLô
|
Mùn Di, Ô Man, Lu Lọc Màn, Di,
Qua La, La La, Ma Di
|
Lô Lô Đen, Lô Lô Hoa | Hà Giang, Cao Bằng, Lao Cai |
43
|
Chứt
|
Xá La Vàng, Chà Củi (Tắc Củi),
Tu Vang, Pa Leng
|
Sách, Mày, Rục, Mã Liềng, Arem, Xơ-lang, Umo | Quảng Bình |
44
|
Mảng
|
Mảng Ư, Xá Lá Vàng, Niễng O, Xa
Mãng, Xá Cang Lai
|
Mảng Hệ, Mảng Gứng | Lai Châu |
45
|
Cờ lao
|
Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Xanh, Cờ Lao Đỏ | Hà Giang | |
46
|
Bố Y
|
Chủng Chá, Trung Gia, Pầu Y, Pủ
Dí
|
Bố Y, Tu Dí | Hà Giang, Lào Cai |
47
|
La Ha
|
Xá Khao, Xá Cha, Xá La Nga
|
Khlá Phlạo, La Ha ủng | Yên Bái, Sơn La |
48
|
Cống
|
Xám Khôống, Xá Xeng, Xa, Xá Côống | Lai Châu | |
49
|
Ngái
|
Sán Ngái
|
Xín, Lê, Đản, Khánh Gia, Hắc Cá (Xéc) | Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng |
50
|
Si La
|
Cú Đề Xừ
|
Lai Châu | |
51
|
Pu Piéo
|
Ka Bẻo, Pen Ti Lô Lô, La Quả,
Mán
|
Hà Giang | |
52
|
Brâu
|
Brao
|
Kon Tum | |
53
|
Rơ-măm
|
Kon Tum | ||
54
|
Ơ-đu
|
Tày Hạt
|
Nghệ An |



